THẮC MẮC: Cùng thờ phượng Đức Chúa Giê-su, tại sao có quá nhiều giáo phái? Tôi muốn biết sự khác biệt giữa giáo hội Công giáo và các giáo phái Tin Lành? Đặc biệt tôi muốn biết sự khác biệt của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm?
Hăy ngược ḍng lịch sử để t́m hiểu Hội Thánh của Đức Chúa Giê-su:
Khi Chúa Giê-su tiết lộ về số phận của thành Giê-ru-sa-lem và ngày Chúa tái lâm, Ngài đă nói trước về những chuyện sẽ xảy đến cho con cái của Chúa, kể từ khi Chúa về trời cho đến khi Chúa trở lại trong ngày Phán Xét cuối cùng của nhân loại. Chúa Giê-su đă nói trước về những hoạn nạn, tai ương sẽ gieo rắc trên hội thánh của Chúa. (Ma-thi-ơ 24:9,21,22)
Lịch sử của Giáo hội thời nguyên thủy đă làm chứng cho những lời của Chúa. Án Tử H́nh được liên tục ban hành trên những người tin nhận Chúa Giê-su. Cơ đốc nhân bắt đầu bị bắt bớ săn đuổi, tước đoạt tài sản, giết chóc. Máu của họ đă đổ ra để làm chứng cho đức tin, từ những người quư phái cho đến kẻ bần hàn, giàu có hay nghèo hèn, trí thức hay ngu dốt, trẻ con đàn bà hay người già lăo, tất cả đều bị tàn sát thẳng tay.
Những cuộc hành quyết này bắt đầu trong thời đại Nê-rôn (Đại Đế La-mă của những năm 55-68 A.D.) khoảng thời gian của sứ đồ Phao-lô, và kéo dài qua nhiều thế kỷ. Cơ đốc nhân bị vu oan và xử tử. Họ bị buộc vào những tội trọng, bị cho là nguyên nhân làm xảy ra các nạn đói kém, mất mùa, dịch lệ, động đất. Họ bị kết án là những kẻ phản loạn chống lại chế độ, là kẻ thù của tôn giáo, là cặn bă của xă hội. Hầu hết bị đóng đinh trên cây cho chết từ từ hoặc bị thiêu sống, phần c̣n lại th́ bị quăng cho sư tử đói ăn sống hoặc bị bắt phải khoác áo lông thú để chó săn rượt đuổi, xé xác trong đấu trường để làm tṛ giải trí cho dân La-mă. Xác của những người tử v́ Đạo được gom góp chôn cất trong những đường hầm trú ẩn tối tăm, đào dọc ngang chi chít dưới mặt đất, ven chân những ngọn đồi bao bọc thành La-Mă.
Một câu nói của người tử v́ đạo được ghi chép lại như sau, "Các người có thể chà đạp, dẫm nát, thiêu đốt chúng tôi. Nhưng như cỏ mùa xuân, lớp người này ngă xuống lớp người khác lại đứng lên. Máu của Cơ-đốc nhân là những hạt giống được gieo văi trên đất." (Tertullian, Apology, đoạn 50). Quả đúng vậy, hàng ngàn người bị tù đầy, giết chóc, nhưng lại có hàng vạn người khác đứng lên để thế chổ.
Lịch sử minh chứng sự đàn áp sắt máu từ bên ngoài không thể diệt được Đức tin. Đại nạn của Cơ-Đốc nhân, cũng như của tất cả các tổ chức khác trên quả đất, thường bắt nguồn từ bên trong. Sự sai lầm phải được vun trồng trong tổ chức như mầm mống ung thư âm thầm phát triển trong cơ thể của một thanh niên mạnh khỏe. Đó là một mưu chước thông thường nhưng tối độc của quỷ lực : Con cái Chúa phải bị đưa dẫn vào con đường sai lạc, khiến cho họ làm những điều mà Đức Chúa Trời cấm đoán. Chối bỏ Chúa mà vẫn tin tưởng rằng ḿnh đang thờ phượng Chúa một cách đứng đắn và phải lẽ.
Và Cơ-Đốc nhân đă bị hướng dẫn từ từ đi ra khỏi đường lối của Chúa. Qua bao nhiêu thế kỷ, Lời của Chúa đă bị chính những người có trách nhiệm hướng dẫn chiên của Ngài t́m cách hủy diệt, chôn dấu, cấm đoán, sửa đổi, cho đến lúc Thật và Giả, Đúng và Sai, Xấu và Tốt, tất cả đều bị trộn lẫn vào nhau. Và con cái Chúa trở thành kẻ tội đồ ngay trong Hội thánh của Ngài.
Sử liệu ghi lại rằng, một danh xưng mới đă được đặt ra để tấn phong cho người đứng đầu hội thánh chức vị Giáo hoàng (the Pope). Đó là một chức vị có quyền hành rộng răi trên cả hai mặt chính trị và tôn giáo, điều khiển hoạt động của Giáo hội lẫn chính quyền quốc gia. Giáo hoàng được xem như là nhân vật đại diện cho Đức Chúa Trời trên quả đất, quyền hành và đức độ ngang bằng Chúa, cần phải được tôn thờ và sùng bái như Chúa. Đức tin và sự trung thành của giáo dân thay v́ đặt trên Đức Chúa Giê-su đă được hướng dẫn để chuyển qua chức vị mới này.
CHỈ DỤ, GIÁO LUẬT, SẮC LỆNH TÔN GIÁO
Vào thế kỷ thứ 6, Giáo hội La-mă bắt đầu ban bố nhiều chỉ dụ, giáo luật, sắc lệnh thay thế cho những sự dạy dỗ trong Kinh Thánh, để hướng dẫn đời sống vật chất cũng như thuộc linh của giáo dân. Cuối thế kỷ thứ 8, Giáo hội La-mă cho công bố những bản viết chưa từng được nghe đến của Hội thánh nguyên thủy, và đặt lại tiêu chuẩn thờ phượng cho Cơ-Đốc nhân. Qua thế kỷ thứ 11, Giáo hoàng Gregory VII ra thông điệp về sự toàn hảo của Giáo hội La-mă, chính thức buộc giáo dân phải tin tưởng rằng Giáo hội La-mă không bao giờ lầm lẫn, không bao giờ làm điều sai trái, và Giáo hội La-mă hoàn toàn theo đúng Kinh Thánh chỉ dạy. Mặc dầu qua thế kỷ thứ 12, Công Đồng Toulouse vẫn công khai cấm đoán không cho giáo dân được giữ Kinh Thánh, ngoại trừ Sách Thi-Thiên (Psalms) và Kinh Nhật tụng của các Linh mục.
Những sự dạy dỗ mới lạ từ các chỉ dụ, giáo luật, sắc lệnh này đă được Giáo hội La-mă cho áp đặt lên tất cả những người nằm trong ṿng ảnh hưởng. Trong gần 1500 Giáo hội La-mă đă trải một con đường máu lên toàn cơi liên hệ, nhằm tiêu diệt tất cả những người dám chống đối đến từ trong hoặc ngoài Hội thánh.
CÁC T̉A H̀NH ÁN hay là THỜI KỲ KHỦNG BỐ (THE INQUISITION)
Hoạt động kinh hoàng nhất của Giáo hội La-mă phải là thời kỳ khủng bố (The Inquisition) vào thế kỷ thứ 13. Hầu như tất cả những ǵ tàn nhẫn nhất trong lịch sữ nhân loại đều có thể được t́m thấy ở trong thời kỳ này. Các tài liệu sách vở để lại về các Ṭa H́nh-Án đă tả lại rất rơ những sự tra tấn rùng rợn mà Giáo hội La-mă đă áp dụng cho những người dám chống đối lại quyền lực của Giáo hội. Những tṛ chơi tra tấn mà các nạn nhân thường là những tín đồ con cái Chúa và người thưởng thức cũng là những người được xưng là con cái Chúa. (Viện bảo tàng tại Cliff House, San Francisco có trưng bày một số dụng cụ đă được dùng đến trong thời kỳ này).
Những cuộc Thánh chiến đẫm máu của Giáo hội La-mă vào thế kỷ thứ 10, 11, 12 để tàn sát hàng triệu người Hồi giáo và Do-thái giáo đă làm chấn dộng lương tri nhân loại. Một thời đại mà cả Âu Châu phải cúi dầu run sợ trước sự cai trị sắt máu của Giáo hội La-mă.
Không có một tín đồ trung tín nào mà không cảm thấy đau ḷng, khi nhận thấy Hội thánh của một Đấng Cứu Thế hiền lành như Chúa Giê-su mà lại có thể trở nên tàn bạo, khát máu và sai lầm đến mức độ kinh hoàng như vậy? Càng đau ḷng hơn khi nghe thấy mọi người, kể cả con cái Chúa lẫn người ngoại, căn cứ trên những sự kiện lịch sử này để phê b́nh đạo giáo của Đấng Cứu Thế, cũng như nghi ngờ bản chất thánh khiết, độ lượng của Chúa Giê-su.
SỬA ĐỔI THỜI KỲ và LUẬT PHÁP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Lịch sử cho thấy mầm mống hủy hoại khởi phát từ thế kỷ thứ 3. Sự kiện sửa đổi Lẽ Thật của Đức Chúa Trời được chính thức khai thác, từ khi Hoàng đế La-mă Constantine gia nhập Thiên-Chúa giáo vào năm 320. Để củng cố và bành trướng thế lực trên cả hai phương diện chính trị và tôn giáo, Constantine hợp tác với Giáo Hội đồng ḷng khuyến dụ đại đa số người La-mă là những người theo Thái dương thần giáo gia nhập Thiên Chúa giáo.
Giáo hội thời bấy giờ đem vào trong Hội thánh những nghi lễ thờ cúng thần tượng, những tập quán lễ tục mê tín dị đoan, những hệ thống tư tưởng khác biệt về sự cứu rỗi, linh hồn người chết, để nhằm mục đích tạo sự dễ dàng thoải mái cho những người mới gia nhập Hội thánh. Được sự hỗ trợ của các thành phần lănh đạo Hội thánh, những người đă đi theo Thái dương thần giáo lúc trước được phép giữ nguyên lề lối thờ phượng cúng bái đa thần ngoại giáo của họ trong khi gia nhập Cơ-Đốc giáo. Họ chỉ phải thay đổi danh xưng và mặt mày của các h́nh tượng thành ra Chúa Giê-su hay các thần thánh khác là được.
Sự nhượng bộ tạm thời lúc ban đầu để khuyến khích người ngoại giáo gia nhập Hội thánh, theo thời gian đă trở thành gốc rễ của các Giáo điều tại La-mă. Phương thức thờ phượng của những người theo Thái-dương thần giáo đă dần dần chế ngự phương thức thờ phượng cũng như các giáo điều của Thiên Chúa giáo.
Một quyết nghị của Đại Hội Đồng tại Nice, vào năm 787 ra lệnh cho tín đồ thờ cúng thần tượng. Giáo hội chính thức xóa bỏ Điều Răn thứ hai trong 10 điều răn của Đức Chúa Trời về sự "Cấm thờ h́nh tượng", và tách Điều Răn thứ mười ra làm hai, để giữ cho đủ số 10 Điều Răn của Đức Chúa Trời.
Một sự thay đổi quan trọng khác cũng xảy ra, đó là sự thay đổi Điều Răn thứ tư về ngày Sa-bát là ngày đă được chính Đức Chúa Trời biệt riêng ra, ban phước, phong thánh và nghỉ ngơi trong đó; cũng như Ngài đă đọc lên và tự tay viết ra trên hai bảng đá chứa đựng 10 điều Răn (Sáng-thế-kư: 2:2-2, Xuất Ê-díp-tô-kư 20:1-17, 32:18, 35:28).
Từ thế kỷ thứ nhất, tín đồ của Hội thánh vẫn giữ ngày Sa-bát thứ Bảy theo như Chúa Giê-su và các sứ đồ vẫn giữ, nhưng qua đến đầu thế kỷ thứ tư, Hoàng đế Constantine dưới sự thúc dục của các cấp lănh đạo Giáo hội, đă ban hành một sắc lệnh dân sự chọn "Ngày mặt trời" (Sunday: Chúa nhật hay Chủ nhật) làm ngày nghỉ chung cho cả nước. Ngày mà dân ngoại giáo thờ cúng thần Thái-dương chính thức trở thành ngày Sa-bát thánh của Thiên Chúa giáo. Ngày Sa-bát thứ Bảy bị Giáo hội La-mă mệnh danh là "Ngày của người Do-thái" và ngày này phải bị hủy bỏ để được thay thế bằng ngày thứ nhất, gọi là ngày Chủ nhật (Lord day). Lư do thay đổi được giảøi thích như là "Ngày Chủ nhật là ngày Chúa sống lại, và giáo dân cần phải ăn mừng và thờ phượng trong ngày đó thay v́ ngày Sa-bát thánh thứ Bảy".
Sự kiện thay đổi luật pháp và thời kỳ do Đức Chúa Trời tạo dựng nhằm mục đích xóa bỏ vai tṛ của Đấng Tạo Hóa và tôn xưng quyền lực của con người.
PHONG THÁNH
Sự du nhập triết lư ngoại giáo vào trong Hội thánh, cũng khai sinh một sự thờ phượng mới, đặt căn bản trên sự hiện hữu của linh hồn con người sau cái chết. Dựa vào những tiêu chuẩn mới này, Giáo hội La-mă đă sắc phong cho những người chết lên chức Thánh, khuyến khích giáo dân thờ phượng những vị thánh này, cùng công bố những bằng chứng cho rằng linh hồn của các vị thánh này vẫn c̣n hiện hữu và đă làm ra những dấu lạ, phép mầu trên quả đất.
Giáo dân được dạy dỗ phải thăm viếng hành hương nơi đất thánh, thờ phượng đồ vật ảnh tượng, xây dựng bàn thờ, hang động để thờ lạy, dâng hiến, cầu khẩn, tạ ơn các vị thánh thần đă được phong xưng (là những cấm kỵ nằm trong Điều Răn thứ Hai của Đức Chúa Trời, đă bị Giáo Hội Công giáo hủy bỏ).
Cúng bái thần tượng và thờ phượng thần thánh do con người sắc phong có những hậu quả vô cùng tai hại:
- Đưa dẫn đức tin của Cơ Đốc nhân trở về t́nh trạng mê tín dị đoan, là một h́nh thái nô lệ trong tâm linh, t́nh nguyện cho kẻ khác mặc t́nh thao túng và lợi dụng.
Sự thờ phượng, cầu nguyện, tạ ơn, thông công dành cho Đức Chúa Giê-su, đă được Giáo hội dạy cho giáo hữu chuyển sang các vị thần thánh do Giáo hội La-mă phong xưng.
HỎA NGỤC
Một thế giới mới cũng được sáng tác gọi là Địa ngục, Hỏa Ngục hay Ḷ Luyện Tội là nơi mà những người mê tín dị đoan hết sức sợ hăi. Ở địa ngục, linh hồn các tội nhân phải chịu những h́nh phạt ghê rợn v́ tội lỗi của họ; chỉ khi nào đă trả xong tội lỗi, linh hồn của họ mới được đưa lên thiên đàng. Sự cầu nguyện của các vị linh mục, hoặc Đặc miễn xá tội của Ṭa thánh, đóng một vai tṛ quan trọng trong sự làm giảm bớt thời gian mà tội nhân phải chịu đày đọa trong Ḷ Luyện Tội, và mau chóng được đưa lên thiên đàng.
Kinh Thánh dạy rằng không có sự tồn tại của linh hồn sau cái chết, "Bụi tro trở về đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đă ban nó (Truyền-đạo 12:7). Trong khi đó th́ thuyết linh hồn và ḷ luyện tội lại trở thành một trong những nền tảng của giáo lư la-mă.
Đương nhiên sự hiện diện của những giáo điều mới này cũng không ngoài mục đích nhằm xóa bỏ uy quyền của Đức Chúa Giê-su trong sự phán xét thế gian. Con người không c̣n trông đợi ngày Chúa tái lâm trong đại quyền và đại vinh để phán xét công và tội của nhân loại trong ngày Tận Thế nữa (Ma-thi-ơ 25:31-46, Khải-Huyền 20:12-13), bởi v́ con người đă được Giáo hội phán xét , tha tội và cho lên thiên đàng, hoặc xử tội và cho xuống hỏa ngục rồi. Cơ-Đốc nhân do đấy cũng không cần phải trông đợi Đức Chúa Giê-su trở lại thế gian để đón rước con cái Ngài như lời đă hứa (Giăng 14:1-3).
ƠN TOÀN XÁ, ĐẶC ÂN XÁ TỘI
Tội lỗi dù có lớn lao cách mấy đi nữa cũng đều được miễn xá cho những người qui phục và làm theo sự điều khiển của Giáo hội La-mă.
Lich sử cho thấy đặc ân xá tội được nhấn mạnh trong những thời gian Giáo hội cần sự bảo đảm vô tội cho những giáo dân tham gia vào sự chém giết trong các cuộc chiến tranh tôn giáo, hay sẽ tham gia vào các cuộc thanh trừng những người có ư chống đối hay khác đức tin. Đặc ân xá tội cũng được ban phát rất nhiều, trong thời gian Giáo hội cần tiền quyên góp để chi tiêu hay xây dựng những công tŕnh kiến thiết vĩ đại. Nhưng b́nh thường th́ ơn toàn xá này được ban phát cho những tín đồ tham gia vào những sinh hoạt đặc biệt của Giáo hội La-mă.
Và một lần nữa, con cái Chúa lại được hướng dẫn để quên đi rằng: Chínhø sự ăn năn tội của mỗi cá nhân với Đấùng Cứu Thế mới chính là con đường dẫn đưa vào sự tha thứ, và chỉ có máu vô tội của Đức Chúa Giê-su trên thánh giá mới có thể bôi xóa được tội lỗi của chúng ta. Tội lỗi của chúng ta không thể được xóa bỏ bởi v́ những công việc mà chúng ta đă làm. Con người không thể căn cứ vào những hành động của ḿnh để được xét đoán là công b́nh trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta không thể hối lộ Đấng Tạo Hóa. Ơn toàn xá do Giáo hội La-mă ban hành không nên được xem như là giấy thông hành để vào cửa thiên đàng.
KINH THÁNH BỊ NGHI NGỜ
Những sự sửa đổi quan trọng trong đời sống tín giáo cũng như những hoạt động tàn độc của Giáo hội La-mă đă khiến cho thế giới bên ngoài và cả con dân của Chúa ghê sợ, lẫn tránh nhà thờ, và nghi ngờ Đạo của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng chủ trương của Giáo hội La-mă là chủ trương của Đấng Cứu Thế, và những tín điều vẫn c̣n được dạy dỗ trong nhà thờ Công giáo ngày nay chính là những sự dạy dỗ của Chúa. Những người này đă đổ hết những lỗi lầm của Giáo hội La-mă lên quyển Kinh Thánh. Và tin rằng, chỉ với những lư do đó cũng đủ chính đáng để cho họ chống báng lại quyển Kinh Thánh, hay ít nhất cũng nghi ngờ tất cả những ǵ được ghi chép lại trong Kinh Thánh.
Tuy nhiên, lịch sử cũng đă bày tỏ trong máu lửa rằng, những tội lỗi và sự sai trái của các chế độ cầm quyền Hội thánh KHÔNG PHẢI là những sự xấu xa sai trái trong đạo giáo của Đấng Tạo Hóa. Lẽ Thật, Lời Thật của Đức Chúa Trời, Tin Lành của Đức Chúa Giê-su, trong thời đại hắc ám nhất vẫn dược ǵn giữ bởi những tín đồ trung tín, can đảm, bất chấp hiểm nguy.
ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM
Một trong những người được sự kêu gọi để hướng dẫn Hội thánh bước ra khỏi bóng đêm tăm tối là Martin Luther. Ông được xem như là người đă được Chúa chọn để dẫn đầu phong trào cải cách Hội thánh và đưa dẫn con người trở lại Lẽ Thật.
Sinh trưởng tại Đức quốc, Martin Luther là một sinh viên xuất sắc của Đại Học danh tiếng Erfurt. Một hôm trong khi t́m ṭi sách vở ở thư viện, ông bắt gặp một quyển Kinh Thánh bằng tiếng Latin. Loại sách này không hề được lưu trữ trong thư viện của trường học, ông chưa từng thấy qua một quyển Kinh Thánh nào trước đó. Ṭ ṃ ông lật từng trang và chăm chú đọc từng ḍng từng chữ trong sách. (J.H.Merle D'aubigné, History of the Reformation of the Sixteen Century, b. 2. ch. 2) Ông xúc động đến nỗi sau đó ít lâu, nhân một vài sự kiện kỳ diệu nữa xảy ra trong đời, ông quyết định gia nhập ḍng tu để có thể hiến trọn cuộc đời cho Chúa.
Luther chịu đựng những sự tu tŕ khổ hạnh nhục nhằn. Ông thành khẩn thực hành các phương pháp hành xác theo sự hướng dẫn của tu viện. Ông thường xuyên nhịn đói suốt ngày, thức trắng đêm không ngủ, chịu bị đánh đập bằng roi vọt với hy vọng diệt được tánh mềm yếu, nhục dục của xác thịt, hầu chế ngự được tội lỗi để cho linh hồn được cứu vớt.
Luther tâm sự như sau, "Tôi thật sự là một người tu hành khổ hạnh, triệt để theo đúng những mệnh lệnh được ban xuống. Nếu có người tu hành nào vào được nước thiên đàng bằng vào những việc làm của ḿnh, th́ chắc chắn người ấy phải là tôi .... Tôi chuyên chú hành xác ḿnh đến độ nếu c̣n tiếp tục lâu hơn nữa, e rằng tôi phải chết mất .... (D'Aubigné, b. 2, ch. 4)."
Sự hành xác mà Martin Luther áp đặt cho ḿnh không làm cho tâm hồn ông được yên b́nh như ông hằng mong muốn. Ông càng ngày càng rơi dần vào chỗ tuyệt vọng. Chính tại đây Chúa đă dẫn đến cho ông một người bạn, Stauitz đă mở cho ông một thế giới mới. Vị huynh trưởng này khuyên ông nên chấm dứt sự hành hạ thân xác để dứt bỏ tội lỗi, mà hăy hết ḷng trông cậy vào sự tha thứ và ân điển của Đấng Christ. Những lời nói của Stauitz gây một ấn tượng sâu đậm trong trí của Luther. Trong tu viện, ông t́m thấy một quyển Kinh Thánh được xiềng vào vách tường, và ông đă dành tất cả th́ giờ rảnh rỗi để đọc và chiêm nghiệm về tội lỗi của con người. Ông thay đổi cách sống và t́m được b́nh an cho tâm hồn.
Sau đó ít lâu Luther được tấn phong linh mục, và trở thành giáo sư của Đại học Wittenberg. Tại đây ông ra sức nghiên cứu Kinh Thánh nguyên bản. Stauitz, người bạn và cũng là cấp trên của Luther, khuyên ông nhóm họp học tṛ lại để giảng dạy Kinh Thánh. Luther nghe theo và bắt đầu mở những lớp dạy Kinh Thánh trong trường.
HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT THÁNH LA-MĂ
Trong chuyến hành hương đầu tiên về Ṭa thánh La-mă, Luther đă làm một cuộc hành tŕnh đi bộ từ nơi ông ở tại Đức quốc cho đến La-mă, viếng qua các tu viện cũng như Thánh đường dọc suốt lộ tŕnh. Ngang qua Ư, ông sững sờ kinh ngạc trước sự huy hoàng, lộng lẫy, xa xỉ tột cùng của các tu viện. Các linh mục sống trong những khu nhà tiện nghi sang trọng, trang phục đắt giá, và tham dự tiệc tùng liên miên. Về La-mă ông lại càng bàng hoàng trước những nghi lễ thờ phượng quái dị, cũng như những ngôn từ trắng trợn và tư tưởng phóng túng của các giới chức Vatican. Ông viết,
"Không thể nào tưởng tượng nổi những tội lỗi ǵ đă xảy ra ngay tại La-mă. Phải tai nghe mắt thấy mới thật sự kinh hoàng. Đă vậy người ta lại c̣n thản nhiên nói với nhau là, "Nếu có địa ngục ở trần gian th́ đó chính là La-mă. Đây là một chủng viện trong đó tất cả tội lỗi đều có mặt (Ibid, B.2, chap 6)".
BẬC THANG PILATE
Tại La-mă, người ta cho trưng bày những bậc tam cấp mà Chúa Giê-su đă bước lên ở trước Ṭa án trong ngày thọ h́nh, gọi là "Những bậc thang Pilate". Vị Giáo hoàng đương nhiệm đă công bố trong một chỉ dụ mới rằng, người nào bước lên "Những bậc thang Pilate" bằng đầu gối của ḿnh th́ sẽ được Ơn Toàn Xá, tha hết tội lỗi.
Một ngày nọ, trong khi đang thành khẩn qú lết trên các bậc thang Pilate để nhận Ơn Đại xá của Giáo hoàng, một tiếng nói chợt vang bên tai như tiếng sấm, "Người công b́nh sẽ sống bởi Đức tin." (Rô-ma 1:17). Luther vội chồm ngay dậy, chạy vụt ra cửa ḷng đầy hổ thẹn và đau đớn, v́ tận trong tim óc, ông đă biết sự tha tội không phải là kết quả của việc làm, mà người có tội cần phải hết ḷng tin cậy nơi ân điển tha thứ của Chúa Giê-su.
Ngày mà Luther quay lưng lại La mă để trở về xứ sở của ḿnh, cũng là ngày mà ḷng ông đă minh bạch về ư nghĩa của Lẽ Thật.
Ít lâu sau, Luther nhận được cấp bằng Tiến sĩ Thần học của Đại học Wittenberg. Ông không c̣n là một linh mục hay là một thầy giảng nữa, mà chính thức được xem như là một giáo sư tiên phong về Kinh Thánh. Ông mạnh dạn tuyên bố rằng Cơ-Đốc nhân chỉ nên tin vào Kinh Thánh mà không nên nghe theo những sự dạy dỗ đi ngược lại Kinh Thánh.
XÂY DỰNG THÁNH ĐƯỜNG PETER
Lúc bấy giờ tại La-mă, để gây quỹ xây dựng thánh đường huy hoàng vĩ đại St. Peter, Giáo hoàng công bố cho buôn bán Chứng chỉ Xá tội. Phạm nhân của bất cứ tội trọng nào cũng sẽ được tha nếu họ chịu bỏ ra một số tiền để mua chứng chỉ này.
Dân chúng Đức thời bấy giờ hết sức mê tín dị đoan, đặc biệt nhất là các tín đồ Thiên Chúa giáo. Họ tin tưởng vào bất cứ điều ǵ do các linh mục giáo xứ truyền xuống, và hoàn toàn không hề có một kiến thức ǵ về Kinh Thánh cũng như Lẽ Thật của Chúa.
Viên chức bán Chứng Chỉ Xá Tội tại Đức quốc lúc bấy giờ là Tetzel, một phạm nhân mang tội trọng chiếu theo Luật pháp của xă hội và cả Luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng y được Ṭa thánh La-mă xá tội và thâu dụng v́ có tài kinh doanh trục lợi. (John C. L. Gieseler, "A Compendium of Ecclesiastical History", Per. 4, Sec. 1, Par. 5)"
Khi Tetzel tiến vào thành phố, y cho một đoàn người đi trước rập ràng hô to khẩu hiệu, "Ân điển của Chúa và của Đức cha đang ở trước cửa nhà của các người". Vào ngay trong nhà thờ chính của thành phố, Tetzel tuyên bố rằng Chứng Chỉ Xá Tội có quyền lực tha thứ bất cứ tội nặng nhẹ, đă làm rồi trong quá khứ hay sẽ làm trong tương lai. Y cũng bảo đảm với mọi người rằng, Chứng Chỉ Xá Tội áp dụng được cho bất kỳ ai, dù c̣n sống hay đă chết. Kẻ có tội chỉ cần mua Chứng Chỉ Xá Tội là được sạch tội, người không có tội th́ nên mua để giải thoát cho những người thân đă chết. Tiền đặt ra là linh hồn của người chết sẽ được thoát khỏi địa ngục để bay về thiên đàng ngay lập tức (K. R. Hagenbach, History of the Reformation, vol.1, p.96).
Việc mua bán Chứng Chỉ Xá Tội gây nên một phong trào thú tội kỳ quái. Người người lũ lượt kéo đến các linh mục, nghinh ngang đầu thú những tội lỗi mà ḿnh đă che dấu lâu nay, trong khi tay phe phẩy Chứng Chỉ Xá Tội vừa mới mua.
Ḷng đầy phẫn nộ, Luther cương quyết bác bỏ sự tha tội này và cảnh cáo họ rằng, nếu họ không có ḷng thành khẩn ăn năn và chừa bỏ, tội lỗi của họ sẽ không bao giờ được tha thứ. Tiu nghỉu, những người này trở về kiện tụng với Tetzel và đ̣i y phải trả tiền lại. Nổi cơn thịnh nộ, Tetzel cho đốt lửa quanh công trường và gào thét dọa dẫm rằng, y "đă có lệnh của Giáo hoàng cho thiêu sống bất kỳ ai dám cả gan chống lại Chứng Chỉ Xá Tội (D'Aubigné, b. 3, ch. 4)".
Trong khi đó th́ Luther vẫn tiếp tục giảng dạy về sự gớm ghiếc của tội lỗi, mà chỉ có ḷng ăn năn sám hối và đức tin trong Đấng Cứu thế mới có thể cứu được kẻ phạm tội. Ông xác nhận rằng, Ân điển của Chúa không thể mua bán, Ân điển của Chúa được phát không cho mọi người. Luther kịch liệt đả kích ḷng mê tín dị đoan và ông khuyến khích dân chúng t́m đọc Kinh Thánh là Lời Thật của Chúa để lại cho con cái của Ngài.
Kẻ ủng hộ, người chống đối, phong trào mau chóng lan tràn khắp nơi trong nước Đức. Nhưng người ủng hộ Luther th́ ít ỏi, trong khi đại đa số là người chống đối. Những người này lo sợ cho quyền lực của Giáo hội sẽ bị giảm sút nên phản đối Luther kịch liệt. Hàng ngày Luther phải đương đầu với những lời công kíck, nguyền rủa từ trong gia đ́nh, bà con, bạn bè đồng lưu, cấp trên, cấp dưới, học tṛ, và đặc biệt là từ Giáo hội. Một mạng lưới chống đối dầy đặc bủa vây ông từ khắp mọi phía, từ những con người đầy uy quyền và mưu lược, qua đến những đồng môn khôn ngoan và đầy kiến thức, ngay đến cả những người dân chất phát, thành tín vẫn hằng thương mến, kính trọng ông th́ nay cũng quay lại kich liệt chống đối.
Sự chống đối mănh liệt đến độ Luther phải hoảng sợ và đôi lúc đâm ra nghi ngờ công việc của ḿnh. Ông đă viết ra những lời than văn trong tập hồi kư như sau, "Tôi là ai mà dám cả gan chống lại uy quyền của Đức Giáo hoàng, là một vị lănh tụ mà ngay cả vua các nước và cả thế giới cũng đều run sợ... Không ai có thể biết được tôi đau đớn đến chừng nào trong 2 năm đầu của phong trào cải cách? Và cũng không ai biết được tôi đă đắm ch́m vào trong những tuyệt vọng nào? (Ibid., b.3, ch. 6)".
Trước những cuộc tấn công và khích bác của đối thủ, Luther luôn luôn dùng Kinh Thánh để trả lời. Kinh Thánh là nguồn gốc cho mọi giải đáp của ông.
Sự kiên tŕ chống đối của ông khiến cho những nhân vật lănh đạo của La-mă phẫn nộ, "Đây chính là một kẻ theo tà giáo, mà chỉ có những kẻ đại nghịch phản bội lại Giáo hội, mới ủng hộ và tha thứ. Người này cần phải bị xử tội ngay lập tức để làm gương cho những kẻ khác."
La-mă gởi giấy triệu Luther về để xử tội. Những người ủng hộ ông rất sợ hăi, họ t́m cách vận động để phiên ṭa xử tội Luther được nhóm họp tại Đức quốc. Tại đây Luther được sự hộ tống đặc biệt của chính quyền khi xuất hiện trước Ṭa án. Trước ṭa, vị Hồng y t́m đủ mọi cách để lay chuyển ư định của Luther, từ biện pháp ôn ḥa đầy t́nh cảm kêu gọi ḷng trung tín của Luther với Hội thánh của Chúa, đến biện pháp công khai dọa nạt ép buộc Luther phải nhận tội.
Nhưng ông vẫn cứ hùng hồn giở quyển Kinh Thánh để giảng giải cho tất cả mọi người có mặt cùng nghe. Cuối cùng th́ Luther bị ra lệnh không được phép mở miệng để biện hộ trước Ṭa. Sang ngày thứ hai, vị Hồng y tuyên bố sẽ dẫn điệu Luther về La-mă và sẽ dứt Phép Thông công của Luther và tất cả những ai có liên hệ với ông.
Nội trong đêm đó, Luther cùng với một hướng dẫn viên lén ra khỏi thành bằng một cửa nhỏ, cưỡi ngựa suốt đêm trở về Wittenberg. Khi vị Đại diện La-mă biết được tin Luther đi trốn th́ đă không c̣n đuổi kịp nữa, người này liền cấp tốc đệ tŕnh lên Hoàng đế Frederic một khẩn thư yêu cầu chính quyền giải giao phạm nhân về La-mă, hoặc trục xuất Luther ra khỏi xứ Saxony.
Trước mặt Hoàng đế Đức quốc và triều đ́nh, Luther khảng khái tuyên bố, "Hoàng thượng ra chiếu chỉ buộc hạ thần phải nói vắn tắc về tội trạng của ḿnh, th́ hạ thần chỉ xin tâu một điều mà thôi, đó là hạ thần không thể chối bỏ Đức tin của ḿnh cho dù bị áp lực của bất kỳ ai, dù đó là Hội Đồng lănh đạo hay chính đương kim Giáo hoàng. Trừ phi Kinh Thánh có đoạn nào hay điểm nào, mà họ có thể dẫn chứng được rằng, việc làm của hạ thần là sai trái, th́ hạ thần mới nhận chịu tội lỗi; bằng không hạ thần nhất quyết không nhận tội bởi v́ Cơ-đốc nhân không được phép làm trái với lương tâm. Cầu Chúa giúp hạ thần đứng vững trong Đức tin của ḿnh. (D'Aibigné, b. 7, ch. 8)".
Hoàng đế Frederic của xứ Saxony mặc dầu không hề hay biết ǵ về phong trào cải cách do Luther chủ xướng, cũng cảm thấy xúc động trước tấm ḷng chánh trực đầy quả cảm của ông, nên tự nguyện làm người bảo hộ cho ông. Hoàng đế từ chối việc giải giao Luther về La-mă hay trục xuất ông ra khỏi nước.
Giáo hội La-mă cảm thấy không thể ngăn cản được làn sóng người ủng hộ lư thuyết cải cách của Luther, bèn ra chiếu dụ cho một thời hạn là 60 ngày để Luther và tất cả những người có liên hệ với ông phản chứng, công khai tuyên bố lầm lẫn và rút lại tất cả những điều ḿnh đă nói, công khai nhận tội của ḿnh và dẹp bỏ phong trào; nếu không tất cả sẽ bị dứt Phép Thông công.
Dứt Phép Thông công là một h́nh phạt khủng khiếp cho Cơ-đốc nhân trong nhiều thế kỷ. Bị La-mă dứt Phép Thông công có nghĩa là bị đuổi ra khỏi cộng đồng loài người, bị xem như là những phần tử phản loạn, bị tước đoạt tài sản, bị săn đuổi hành hạ và giết bỏ mà không một ai bảo vệ hay thương xót. Bị dứt Phép Thông công là phải trốn chui trốn nhủi suốt đời trong bóng tối, sống bên lề xă hội như những kẻ ở ngoài ṿng pháp luật. Bị dứt Phép Thông Công c̣n có nghĩa là linh hồn sau khi chết sẽ bị Giáo hoàng cấm không cho vào thiên đàng và phải bị đày xuống địa ngục.
Luther viết về thời gian này như sau, "Điều ǵ sẽ xảy ra, tôi thật không biết và cũng không muốn để tâm ... Gió thổi thế nào mặc gió, tôi cũng không sợ. Một chiếc lá rơi c̣n là do ư Chúa, huống hồ ǵ là sinh mạng của con cái Ngài. Được chết v́ quyển Kinh Thánh là một ân huệ. Cũng bởi v́ bảo vệ Lời của Đức Chúa Trời mà Chúa Giê-su cũng đă chết. Nếu chúng ta chết với Chúa, chúng ta cũng sẽ sống lại với Chúa. Chúng ta sẽ trải qua những điều Ngài đă trải qua trước đó và rồi chúng ta sẽ được ở bên Chúa đời đời (D'Aubigne, 3rd London ed, Walther, 1840, b.6, ch.9)".
PHONG TRÀO PHẢN KHÁNG (PROTESTANTISM)
Khi chiếu dụ 60 ngày đến tay Luther, trước mặt tất cả sinh viên, giáo sư, và các công dân của mọi cấp bực trong thành phố, Luther đốt chiếu chỉ của Giáo hoàng, cùng các sắc lệnh, giáo luật, những tuyên cáo, quyết nghị của Giáo hội. Ông chính thức phát động Phong trào cải cách, "Giáo hội đă đốt Kinh thánh để làm sai lạc Lẽ Thật trong đầu óc giáo dân, và hủy hoại linh hồn của họ. V́ những điều ấy, hôm nay tôi cũng sẽ thiêu hủy hết những luật lệ giả trá này. Đây là sự khởi đầu cho một cuộc đấu tranh rất quan trọng. Tôi không chống lại Hội thánh của Chúa mà chỉ phản kháng thể chế Giáo hoàng (the Papacy). Tôi chiến đấu để t́m lại vinh hiển cho Danh của Chúa. Công cuộc cải cách này có bị tan ră hay được trường tồn là theo Ư muốn thánh của Chúa, chứ không phải theo ư của tôi. (Ibid., b.6, ch.10)".
Chỉ dụ kế tiếp của Giáo hội La-mă ban xuống để dứt Phép Thông công của Luther và những người nghe theo ông, tuyên án tất cả đều bị cấm cửa thiên đàng và phải bị đày vào địa ngục đời đời. Trước t́nh trạng săn đuổi bi đát mà các bằng hữu của ông chịu đựng, cho dù rằng tất cả đều cam ḷng chịu Tử v́ Đạo, tâm hồn Luther không khỏi u uất, năo nề. Ông viết,
"Càng ngày tôi càng cảm thấy sự khó khăn trong việc dứt bỏ những ư niệm, thói quen, lễ tục, những điều ḿnh đă tin theo từ thuở bé. Ôi! Thật là đau xót, mặc dù tôi luôn luôn để quyển Thánh kinh ở bên cạnh để nhắc nhỡ lư do đă khiến tôi dám cả gan đứng lên phản kháng lại chế độ Giáo hoàng (the Papacy), tâm trí tôi vẫn đau nhức không cùng.
Biết bao lần tôi đă chua chát tự đặt cho ḿnh câu hỏi mà những người theo chế độ Giáo hoàng vẫn thường ngạo mạn chất vấn tôi, "Không lẽ trên trần thế này chỉ có một ḿnh ngươi là khôn ngoan thấy được Lẽ Thật, c̣n tất cả những người khác th́ đều ngu dốt lầm lẫn hết sao? Làm ǵ có chuyện đó !!! Chính ngươi mới là lầm lẫn! Và chính ngươi đă khiến cho những người nghe theo ngươi cũng bị nguyền rủa đời đời." Biết bao lần tôi đă chống cự với bản thân ḿnh và với cả Satan, và cũng biết bao lần Chúa Giê-su đă dùng Lẽ Thật của Ngài để soi sáng tâm hồn nghi ngại của tôi (Martyn, The Life and Times of Luther, p. 372,373)".
LIÊN TỤC TRỞ VỀ NGUỒN
Và cuộc cách mạng cải cách tôn giáo bắt đầu từ đó, biểu dương sự đối nghịch giữa Kinh Thánh và tập quán thói quen của con người. Đó là sự khác biệt giữa Công giáo La-mă (Roman Catholicism) và các giáo phái phản kháng (Protestantism). Ở Việt Nam, Protestantism được gọi là Cải cách giáo, Cải chánh giáo hay gọi nôm na là các giáo phái Tin Lành (các giáo phái rao giảng về Tin Lành (Good News) của Đức Chúa Giê-su).
Phản kháng là h́nh thái duy nhất để đệ tŕnh Lẽ Thật trong thời của Martin Luther. Thời đại ngày nay cũng vậy, con cái Chúa không kể thuộc về Giáo hội nào cũng đều phải tôn trọng Lẽ Thật. Cơ-Đốc nhân ở mọi thời, mọi nơi đều có chung những nan đề. Cách thức biểu lộ của họ có thể khác nhau tùy theo từng thời đại, nhưng những u uất băn khoăn lúc nào cũng giống nhau.
Tin như thế nào mới là tin đúng? Thờ phượng như thế nào mới là thờ phượng đúng? Nghe theo sự dạy dỗ trong quyển Kinh Thánh cũ kỹ cách đây gần 2000 năm, hay nên nghe theo sự hướng dẫn của Hội thánh trong thời đại văn minh hiện tại? Làm thế nào để đừng lầm lẫn trong quyết định của ḿnh? Nên nghe theo tất cả các sự dạy dỗ trong Kinh Thánh hay chỉ tin theo một phần nào đó mà thôi? Nếu Hội thánh của ḿnh đang dạy dỗ những điều không đúng với Lẽ Thật, th́ ḿnh phải làm như thế nào?
Phản kháng một hệ thống tư tưởng, một đường hướng thờ phượng, một thể chế cai trị, một chế độ, không phải là sự chống đối lại những con người sống trong chế độ đó. Tất cả Cơ-đốc nhân đều là những tín đồ chân t́nh, ngay thẳng, tin cậy và trung thành. Chỉ có chế độ, do một nhóm người nghĩ ra và đặt ra, mới có những lỗi lầm, sơ sót, xấu xa. Và chỉ có chế độ mới cần phải được sửa chữa.
Phong trào cải cách của Martin Luther đưa Cơ-đốc nhân trở về thờ phượng theo Lẽ Thật, tôn trọng Luật pháp của Chúa hơn Điều lệ của con người. Những người nối gót Martin Luther cũng phải kiên tŕ tranh đấu cho Lẽ Thật. Ngày nào Lẽ Thật c̣n bị che dấu, ngày đó công cuộc cải cách vẫn c̣n được tiếp diễn. Nhiều ư kiến sửa đổi, nhiều đường hướng riêng biệt đă được đưa ra nhằm loại bỏ dần những hệ thống tư tưởng do con người nhồi nặn để trở về với nguồn cội Kinh Thánh. Đó là lư do của sự xuất hiện nhiều giáo phái Tin Lành trên thế giới, đặc biệt là tại Mỹ quốc.
Nước Mỹ được thành lập do bởi những người đi t́m một nơi để được sinh sống và thờ phượng Đức Chúa Trời một cách tự do mà không bị cưỡng bức phải tuân theo một hệ thống tín ngưỡng hay thể chế tôn giáo nào. Những người tiên phong lập quốc của nước Mỹ đă dựng nên một quốc gia hùng cường nhất trên thế giới trong một thời gian rất ngắn ngủi, so với lịch sử mấy ngàn năm dựng nước của các quốc gia khác. Mỹ quốc là một quốc gia có sự ban phước đặc biệt của Đức Chúa Trời dành riêng cho những con cái Chúa biết thờ phượng Ngài với tâm thần và Lẽ Thật.
HỘI THÁNH CƠ-ĐỐC PHỤC-LÂM AN THẤT NHẬT (SEVENTH-DAY ADVENTIST CHURCH)
Cơ-Đốc Phục-Lâm An Thất Nhật là một trong các giáo phái Tin Lành, được thành lập vào năm 1864 tại Hoa-kỳ và được giảng ra tại Việt Nam từ năm 1930. Hội thánh có khoảng 10 triệu tín đồ hoạt động trên khắp thế giới và thường được gọi tắt là Hội thánh Cơ-Đốc Phục-Lâm.
Hội thánh Cơ-Đốc Phục-Lâm đeo đuổi cùng chí hướng với tất cả các Giáo phái Tin lành khác, cộng thêm với một cải cách mới. Đó là sự trở về thờ phượng Chúa vào ngày Sa-bát thứ Bảy, là ngày mà Đức Chúa Trời đă đặt ra từ buổi sáng thế, ban phước và phong thánh; là ngày mà Đức Chúa Giê-su và các môn đồ vẫn thờ phượng trong khi c̣n tại thế.
Thế giới ngày nay là thế giới của ngày Chủ nhật. Tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, không kể là tôn giáo nào: Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Ấn độ giáo, Hồi giáo ... kể cả người vô thần, cộng săn, cũng đều nghỉ ngơi trong ngày Chủ nhật.
Sức mạnh của ngày Chủ nhật thật là khủng khiếp. Cơ-Đốc nhân ǵn giữ 8 Điều Răn, 9 Điều Răn, nhưng nghỉ ngơi trong ngày Chủ nhật, th́ vẫn được gọi là "Con cái Chúa". Trong khi tín đồ Cơ-Đốc Phục-Lâm, cố gắng ǵn giữ 10 Điều Răn, vâng theo lời của Chúa, nghỉ ngơi trong ngày thứ Bảy th́ lại bị mệnh danh là "Tà đạo".
Nhưng có hề chi, tín đồ Cơ-Đốc Phục-Lâm sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi của cuộc sống trong một thế giới ǵn giữ ngày Chủ nhật, sẵn sàng đi ngược lại thói quen của đại đa số, để ǵn giữ Lẽ Thật của ngày Sa-bát thánh. Họ tin tưởng rằng ngày Sa-bát là dấu hiệu chứng tỏ Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo, mà danh thánh của Ngài đă được xưng ra trong Điều răn thứ Tư, và được khẩn cấp nhắc lại trong sứ điệp của ba vị thiên sứ trong thời kỳ cuối cùng (Khải-Huyền 14:6-7).
Và cũng tin tưởng rằng, ngày Sa-bát thứ bảy c̣n là dấu ấn mà Đức Chúa Trời đă đóng trên con cái của Ngài như Lời Ngài đă phán cùng Môi-se trong Xuất Ê-Díp-Tô Kư 31:13 "Nhứt là các ngươi hăy giữ ngày sa-bát ta, v́ là một dấu giữa ta và các người, trải qua mọi đời, để thiên hạ biết rằng ta, là Đức Giê-hô-va, làm cho các người nên thánh". Dấu ấn này cũng sẽ được đóng lại trên trán con cái của Chúa để bảo vệ họ trong Ngày Tận Thế (Khải-Huyền 7:2-3).
Những sự chống đối và nghi kỵ của những người anh em cùng thờ chung một Đáng Cứu Thế không làm nản chí các tín đồ Cơ-Đốc Phục-Lâm, mà đại đa số là những người đă bỏ rất nhiều thời gian, công sức để t́m kiếm một con đường chính đáng trong sự thờ phượng Đấng Tạo Hóa. Và đă mạnh dạn chặt đứt những lầm lẫn trong quá khứ, can đảm đứng thẳng người lên đối diện với Sự Thật, can đảm bày tỏ Đức Tin của ḿnh trước sự ghét bỏ của những người thân thuộc, và can đảm chịu đựng những áp lực của mọi người chung quanh.
Nghi ngờ là phản ứng tự nhiên của một con người có đầu óc khôn ngoan và lư trí. Chúng ta có quyền nghi ngờ và nên nghi ngờ những sự truyền giảng tôn giáo đi ngược lại những hiểu biết thông thường. Nhưng sự nghi ngờ phải đi kèm theo với một tâm hồn cởi mở, sẵn sàng học hỏi để t́m kiếm sự thật. Nhất là khi Sự Thật đó sẽ giải phóng linh hồn chúng ta.
THỐNG NHẤT TÔN GIÁO, ĐOÀN KẾT GIỮA CÁC HỘI THÁNH
Tất cả mọi người, ai cũng có sự chán ghét và ghê tởm những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu từ mấy ngàn năm nay, và ai cũng khao khát một cuộc sống ḥa b́nh giữa những người khác Đức tin. Đại đa số dân chúng ngày hôm nay, trông ngóng một sự thống nhất tôn giáo, ḥa hợp, ḥa giăi giữa các giáo phái, các hội thánh, cho tất cả các con chiên cùng trở về một chuồng. Đối với những người này, một tôn giáo đại đồng là h́nh ảnh của một thế giới ḥa b́nh và an lạc.
Họ cho rằng, không nên nhắc lại những sự sai lầm trong quá khứ, mà hăy quên hết những điều đó đi và cùng nhau họp lại, đoàn kết lại tất cả các Hội thánh, và tất cả những ai có thờ phượng Đức Chúa Giê-su th́ hăy cùng nhau trở về chung một chuồng, kết hợp lại thành một tổ chức duy nhất, và đừng bao giờ phê b́nh nhau hay chống đối nhau nữa.
Điều ao ước đó thật là hữu lư và làm cho tất cả mọi người phải suy nghĩ. Nhưng chúng ta có thể làm điều đó được không?
Sống hiền lành, ḥa hợp với tất cả những người chung quanh, không có nghĩa là chúng ta phải công nhận những điều họ làm là đúng và chúng ta phải làm theo. Đức Chúa Giê-su thương xót và cứu vớt tất cả những người có tội, nhưng Ngài không chấp nhận tội lỗi. Chúa không hề nói rằng "Đường nào cũng tới La-mă", "Đạo nào cũng giống nhau", "Tất cả các Giáo chủ đều chỉ là một người", "Thờ phượng kiểu nào cũng tốt", "Ai làm ǵ cũng được", "Dạy dỗ, giảng giải Lời của Đức Chúa Trời như thế nào cũng đúng"...
Kinh thánh cho thấy Đức Chúa Giê-su không bước chân vào đền đài thờ phượng của bất cứ thần thánh nào, Ngài không đọc bất cứ bài kinh nào do con người đặt ra, vàkhông làm theo bất cứ điều ǵ mà những người chung quanh đang làm, để được thiên hạ khen thưởng tinh thần ḥa b́nh, ḥa hợp, nhân từ của Ngài.
Chúa chỉ vào trong Hội Thánh của Ngài, chỉ thờ phượng Đức Chúa Trời và chỉ giảng dạy Lời của Đức Chúa Trời. Tất cả những ngày tháng dưới thế gian của Chúa Giê-su được dùng để dạy dỗ lại cho con cái Ngài cách thức thờ phượng Đức Chúa Trời như thế nào cho đúng với "Tâm Thần và Lẽ Thật", sống như thế nào cho đẹp ḷng Thượng Đế tối cao. Vàkhông ai có thể phê b́nh t́nh yêu thương và ḷng nhân ái, ḥa hoăn của Đức Chúa Giê-su.
THẾ GIỚI H̉A B̀NH, NHÂN LOẠI GIÀU CÓ VỮNG MẠNH
Ttrong Kinh Thánh, Chúa Giê-su gọi những con cái chân chính của Ngài trong thời đại sau cùng là "Những kẻ c̣n sót lại" và thế giới họ đang sống là một thế giới hỗn loạn, chiến tranh, bệnh hoạn, thiên tai, và quyền lực của ma quỷ kết hợp lại để gieo rắc kinh hoàng cho những ai dám chống đối. Và rồi tai họa chết chóc sẽ liên tục đổ xuống trên loài người, ở khắp mọi nơi, mở đầu cho Ngày tận thế của nhân loại.
Chúa Giê-su không hề nhắc đến một thời kỳ cuối cùng với một thế giới đại đồng, trong đó tất cả con cái Chúa kết hợp lại thành một lực lượng khổng lồ, trên 2 tỷ Cơ Đốc nhân, và tất cả mọi người đều chung sống cùng nhau trong ḥa b́nh, giàu có và vững mạnh, thương yêu nhau và ḥa hợp với nhau.
HĂY CẨN THẬN
Ma quỷ đă theo đuổi nhân loại từ thời khởi thủy cho đến ngày tận thế để khuyến dụ chỉ một điều, đó là "Đừng tin Lời Chúa và đừng làm theo Lời Chúa". Lời của Chúa đă bị chôn dấu, bị cấm đoán, bị sửa đổi để làm sai lạc tất cả những ǵ con người biết về Ngài, để họ nghi ngờ không tin. Nếu ai có ḷng tin, th́ lại phải chịu muôn ngàn cản trở để không thể thực hiện đức tin của ḿnh.
Bạn thân mến,
Chúng ta là những kẻ đang bơi trong gịng thác hỗn loạn của thế giới. Chúng ta đang ở trong Thời Đại Cuối Cùng của nhân loại. Kinh Thánh là Lời của Chúa để lại cho chúng ta, để giúp chúng ta đứng vững cho đến ngày cuối cùng. Lẽ Thật là chiếc phao duy nhất mà chúng ta có thể bám víu vào để được cứu.
Lẽ Thật! Đó chính là cái thập tự giá mà tất cả con cái Chúa phải gánh vác trong cuộc đời của ḿnh. Chúa Giê-su đă v́ bảo vệ Lẽ Thật mà bị nguyền rủa và giết chết trên cây thập tự. Chúng ta có dám theo Chúa để gánh vác thập tự giá cùng Ngài hay không? Ngày cuối cùng đă gần kề, chúng ta hăy mau bước ra khỏi bóng tối ḿnh đang sống để t́m đến ánh sáng của Đức Chúa Giê-su. Đừng lần lữa, sợ sệt, chờ đợi nữa. Có rất nhiều người đă có chung những hoàn cảnh như chúng ta và họ đă được Chúa giúp đỡ để có đủ can đảm làm những quyết định dứt khoát.
Bạn ơi, Hăy kêu cầu Danh Giê-su! Hăy kêu cầu Danh thánh độc nhất của Đấng Cứu Rỗi, để Ngài ban cho chúng ta Đức Thánh Linh là Thần của Lẽ Thật, là Đấng sẽ giúp chúng ta phân biệt được Đúng và Sai, Chánh và Tà.
Trích dẫn trong đặc san Suối Thiêng: Ấn Bản Đức Tin & Lẽ Thật